III-THỬ NGHIỆM SỰ THAY ĐỔI ÁP HUYẾT GIẢ TRÊN TỪNG HUYỆT
Trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu công dụng của huyệt và vị trí huyệt để áp dụng trong việc khám phá cách chữa bệnh kỳ diệu của huyệt trong trường hợp cấp cứu những bệnh về áp huyết giả.
Trên đây là đồ hình huyệt của Mạch Nhâm, để ý đoạn giao điểm của 2 bờ xương sườn giao nhau tại huyệt Trung Đình. Từ Trung Đình xuống rốn chia làm 8 đoạn đều nhau, có 8 huyệt : Huyệt ở mỏm xương ức là Cưu Vì, đến Cự Khuyết, Thượng Quản, Trung Quản, Kiến Lý, Hạ Quản, Thủy Phân và Thần Khuyết.
Từ rốn là huyệt Thần Khuyết đến đỉnh xương mu là Khúc Cốt, chia làm 5 đoạn đều nhau. đoạn thứ nhất từ rốn xuống là huyệt Âm Giao, Thạch Môn, Quan Nguyên, Trung Cực. Huyệt Khí Hải chiếm 1 đoạn rưỡi, giữa Âm Giao và Thạch Môn.
Trước hết đo áp huyết thực ở hai cánh tay, có những trường hợp khác nhau xẩy ra sau đây
a-Áp huyết tự nhiên ở hai tay bằng nhau dưới 140/90mmHg mạch 75 là người không bị bệnh áp huyết.
b-Áp huyết 2 tay cao bằng nhau 150/95mmHg là người có bệnh cao áp huyết, mà không uống thuốc chữa bệnh áp huyết.
c-Áp huyết tay bên trái thấp 140/90mmHg mạch 75, bên tay phải 150/90mmHg mạch 78 là bệnh nhân đang uống thuốc chữa cao áp huyết.
d-Áp huyết tay trái 135/90mmHg mạch 72, tay phải cao hơn nhiều 160/95mmHg, mạch 80, có dấu hiệu tê 5 ngón tay phải, đau cổ gáy tay vai phải, không dơ cánh tay lên đươc. Nếu chữa thuốc giảm đau hau giải phẫu thần kinh hay gân cổ tay, vai là chữa ngọn. Nguyên nhân chính là áp huyết cao, thần kinh ngoại biên bên tay phải bị co thắt làm đau. Đã có một bác sĩ Tây Y người ngoại quốc làm ở bệnh viện gần chỗ tôi, đến chữa bệnh đau cánh tay phải. Khi tôi đem máy đo áp huyết ra đo. Ông tức cười nói rằng, tôi là bác sĩ, lúc nào tôi cũng đo kiểm soát áp huyết rất tốt khoảng 120/85mmHg mạch 75. Khi tôi đo tay trái đúng như ông nói. Ông bảo : Đấy, tôi nói đâu có sai. Tôi trả lời : Ông hãy chờ xem.
Tôi đo áp huyết bên tay phải làm ông ngạc nhiên, và ông càng ngạc nhiên hơn khi áp huyết lên 165/95mmHg mạch 82. Tôi nhờ ông giải thích tại sao có sự khác biệt. Ông im lặng. Tôi giải thích chính sự khác biệt này mà thần kinh ngoại biên ở bên tay phải co thắt do áp huyết tăng cao ông mới bị đau. Tôi không chữa vào ngọn là tay đau, mà tôi chữa vào gốc làm giảm áp huyết ở tay phải xuống còn 120 bằng với tay bên trái là ông hết đau. Sau khi dùng kim châm tiểu đường nặn máu làm thông 6 đường kinh tay và đo lại áp huyết xuống còn 120, Tay ông cử động dơ lên dơ xuống hết đau làm ông ngạc nhiên. Như vậy áp huyết của tay phải là áp huyết giả, do dùng thuốc làm áp huyết 2 tay chênh lệch nhiều, nếu không điều chỉnh lại áp huyết giả tay phải, cuối cùng bệnh nhân vẫn bị stroke và tê liệt như thường.
e-Áp huyết tự nhiên ở một tay tốt như 120-130/80mmHg mạch 65-75, một tay qúa thấp dưói 100/65mmHg mạch 65. Bên nào thấp là nửa đầu bên đó bị đau thiên đầu thống, Tây Y gọi là migraine, do tắc ống mạch dẫn máu ở sau tai lên nuôi não là huyệt É Phong. Bấm giữ huyệt này lâu trong thời gian đang đo áp huyết bên thấp, áp huyết nửa bên đầu sẽ tăng cao hơn 140/90mmHg, lúc đó mặt đỏ hồng, trán nóng ấm rịn mồ hôi, và đo lại áp huyết lên tự nhiên khoảng 110/80mmHg. Bấm huyệt É Phong một lần nữa cho áp huyết lên hơn 145/90mmHg, sau đó đo áp huyết tự nhiên ở cả 2 tay thấy xuống bằng nhau khoảng 110-115/80mmHg mạch 65-70. Như vậy áp huyết bất bình thường trước khi chưa điều chỉnh là áp huyết giả làm ra bệnh.
f-Đo áp huyết hai tay thấp dưới 110/70mmHg mạch 65 đối với Tây Y là áp huyết tốt, nhưng bệnh nhân vẫn bị mệt, chóng mặt, rụng tóc, mất trí nhớ, kém ăn, mặt mất sắc không có thần, tinh thần suy nhược, hay phải chữa đau cổ gáy tai vai kinh niên mà không khỏi. Đây là áp huyết giả, khi bấm huyệt điều hòa khí thông toàn thân, áp lực khí của lục phủ ngũ tạng chia đều, lúc đó áp huyết thực xuống ở cả 2 bên tay còn 95/60mmHg mạch 60, cần phải uống sirop bổ máu để áp huyết lên đúng và đủ mới tránh được những bệnh ung thư sọ não vì thiếu máu não và máu toàn thân.
g-Nếu áp huyết đo bình thường ở 2 tay thấp dưới 100/65mmHg mạch mạch 65 là thiếu máu bẩm sinh, khi lớn tuổi áp huyết vẫn không lên do ăn uống kiêng khem, ăn chay, không có chất bổ máu, những người này thường hay bị bệnh ung thư, vì hồng cầu mất dần, bạch cầu tăng. Nếu phụ nữ, thường ung thứ vú sau di căn sang ung thư tử cung, đàn ông thường ung thư phổi di căn sang gan hay bao tử
h-Những người có áp huyết 125/80mmHg mạch lúc nào cũng cao trên 110, Tây Y cho rằng áp huyết tốt, chỉ có mạch hơi cao. Thực ra bệnh này do thiếu lượng máu trong cơ thể trầm trọng, áp huyết giả đã gạt bác sĩ. Áp huyết thật sự của loại người này là 95/65mmHg mạch 80. Nếu mạch 80 không đủ lực bơm máu tuần hoàn cho đủ một chu kỳ toàn thân, nên tim phải đập nhanh thêm 30 lần nữa trong một phút, làm áp huyết tăng giả lên thêm 30 mới được 125.
Đông Y khí công lúc nào cũng điều chỉnh khí để tìm ra áp huyết thật sự, nên mới khám phá ra những căn bệnh nan y mà tây không giải quyết được. Có người bị những trường hợp này, trở thành bệnh tâm thần, hoảng sợ, tim đập nhanh, hồi hộp, mất ngủ. Tây Y chữa vào ngọn, dùng thuốc an thần, thuốc ngủ, thuốc trị điên suốt đời mà không chữa vào gốc bênh nên bệnh càng ngày càng trầm trọng thêm. Trường hợp này Đông Y khí công cho dùng thuốc bổ máu, đủ máu nhịp tim sẽ chậm lại và áp huyết tăng dần cho đến mức tiêu chuẩn bình thường là khỏi bệnh
1-CÔNG DỤNG CỦA TỪNG HUYỆT :
HUYỆT CƯU VĨ :
Là giao hội huyệt của Mạch Nhâm Đốc để điều chỉnh tim phổi, chữa đau tức dưới tim nghẹn ngực khó thở, thư giãn ngực, định thần
Đo áp huyết ờ 2 tay khi chưa chữa bằng huyệt, tay nào cao hơn hết sẽ giữ máy đo thường trực ở tay đó, thí dụ tay bên cao là 220/120mmHg mạch 95. Sau dùng ngón tay cái bấm đè vào Cưu Vĩ rồi bấm máy, máy đo được 240/130mmHg mạch 95. Cứ bấm tiếp trên huyệt, bệnh nhân được thư giãn ngực, định thần, lần thứ 2 áp huyết xuống 190/110mmHg mạch 90, bấm tiếp lần thứ 3 bệnh nhân hết bị nấc nghẹn, dưới tay mình nghe có khí và nước từ lồng ngực chảy xuống kêu rọc rọc, áp huyết xuống 160/90mmHg, tiếp tục lần thứ 4 áp huyết xuống 140/90mmHg mạch 80. Buông tay ra không bấm vào huyệt nào cả, đo áp huyết tự nhiên trên tay xuống còn 130/85mmHg mạch 80. Nghĩa là áp huyết ở tay đo tự nhiên thấp hơn áp huyết ở tay lúc bấm huyệt Cưu Vĩ
Trường hợp Tây Y không thể giải thích được, như áp huyết đo được ở tay lên tới 220-240/140mmHg mạch 120 mà không chết, vì áp huyết này là áp lực lồng ngực dẫn ra mạch ở tay chứ không phải là áp lực của tim dẫn ra mạch ở tay.
HUYỆT CỰ KHUYẾT :
Là huyệt giao hội của tim với bao tử, có công hiệu thông hòa ngăn nghẹn ở cách mô, giúp điều hòa tiêu hóa trung tiêu, chữa khí của tim suy, tỉnh thần, khí huyết suy nhược do áp huyết thấp.
Khi đo áp huyết ở 2 tay hay nhìn ở biểu đồ áp huyết trên máy trong phòng cấp cứu thấy áp huyết thiếu dưới 105/65mmHg mạch 75. Khi bấm đè giữ vào huyệt này, áp huyết lên từ từ đến mức 135-140/85-90 mạch 75 thì buông ra. Nếu buông tay không bấm huyệt, đo lại áp huyết vẫn ổn định thì không cần bấm nữa. Đó là áp huyết thực của bệnh nhân.
HUYỆT THƯỢNG QUẢN :
Là huyệt giao hội của lá mía, bao tử, ruột non. Có chức năng tiêu đàm ngăn nghẹn, hóa đàm tiêu thấp trọc, thông chức năng hoạt động của tỳ vị, làm tỉnh thần.
Khi đo áp huyết tự nhiên ở tay 190/100mmHg mạch 90, do đờm dãi trong lồng ngực ngăn nghẹn vì thức ăn trong bao tử không tiêu hóa thành đàm ứ đọng ở cách mô, khó thở khò khè. Bấm ngón tay cái vào huyệt này, nghe bụng sôi, hạ đàm, áp huyết lên tới 220/120mmHg mạch 100, thông vài lần nghe tiếng ọc ạch, ho sặc, khạc đàm, hay có khí có nước chạy xuống bụng là đàm đã hạ, đo lại áp huyết xuống còn 140/90mmHg ở huyệt này, nhưng buông tay không bấm huyệt nữa, đo áp huyết thực ở tay bây giờ là 130/85mmHg mạch 75
HUYỆT TRUNG QUẢN :
Là giao hội huyệt của khí, bao tử, tam tiêu, tiểu trường, dẫn thức ăn xuống ruột non để thu nạp chất bổ khí toàn thân.
Khi đo áp huyết bình thường ở tay khoảng 160/100mmHg mạch 100, bấm huyệt này, nghe tiếng nước hay khí chạy xuống bụng và ruột, hơi thở mạnh hơn, bụng phồng xẹp được nhiều hơn, đều hơn. Lúc đó áp huyết xuống 120-130/80-90mmHg là lý tưởng, và nhìn vào nhịp thở đang thấp, có khi máy không chỉ vì dùng máy trợ thở mà cơ thể bệnh nhân không thở, chỉ nghe tiếng xì…xạch của máy, bệnh nhân không thở, nhưng khi bấm vào huyệt này, hơi thở bệnh nhân tăng lên, đều đặn hơn, giữ nhịp 18-20 hơi thở trong 1 phút. Như vậy huyệt này dùng để chỉnh giữ nhịp thở bệnh nhân được tự thở đều đặn. Khi buông tay ra khỏi huyệt, con số nhịp thở vẫn được duy trì, chứng tỏ thần của bệnh nhân được phục hồi, sẽ tỉnh ra khỏi cơn hôn mê rất nhanh.
HUYỆT KIẾN LÝ :
Là huyệt điều chỉnh tỳ vị, dẫn khí từ thượng tiêu xuống trung tiêu, từ trung tiêu thức ăn được điều chỉnh tiêu tích trệ ứ đọng xuống hạ tiêu.
Đo áp huyết trước khi bấm vào huyệt này khoảng 180/100mmHg mạch 100 là ăn không tiêu, là áp huyết tăng giả tạo. Bấm huyệt này cho áp huyết xuống 120/80mmHg mạch 80 là lý tưởng. Buông tay, đo lại áp huyết xuống 120-125/80mạch 75 là áp huyết thực của tim mạch được thư giãn không do sức ép của bao tử ở lồng ngực nữa.
HUYỆT HẠ QUẢN :
Là huyệt giao hội của tỳ (lá mía) có công dụng giúp bao tử tiêu hóa, hấp thụ thức ăn thành chất bổ khí huyết, làm trống bao tử tiêu hóa thức ăn.
Đo áp huyết trước khi bấm huyệt này, khoảng 170-200/100-120mmHg mạch 80-100 là bao tử bị đầy không tiêu. Bấm huyệt giữ lâu, bệnh nhân thở sâu hơn, bụng có tiếng kêu ọc ọc, bao tử bị đẩy thức ăn xuống dưới, nhịp thở mạnh hơn, có lực hơn. Đo lại áp huyết xuống còn 120/80mmHg là áp huyết thật của tim mạch.
Có thể cùng lúc bấm cả hai huyệt Kiến Lý và Hạ Quản. để giùp nhịp thở đều 18 hơi và tăng biên độ hơi thở để máy vẽ ra hình sin đều và cao hơn, mới trở thành người khỏe mạnh.
HUYỆT THỦY PHÂN :
Là huyệt điều chỉnh chức năng của thận và tỳ, hai chức năng này tương phản không hòa hợp, tỳ vị ngăn chặn sự thoát nước của thận làm ra sưng phù nê.
Đo áp huyết trước khi bấm huyệt lên tới 200/120mmHg mạch 100, trong khi bấm huyệt, đo áp huyết xuống dần 120/80mmHg là lý tưởng, sau đó đo lại tự nhiên áp huyết thực của tim mạch bây giờ cũng khoảng 120/80 mạch 75.
HUYỆT THẦN KHUYẾT :
Là huyệt của bao tử và ruột già, có chức năng làm ấm bụng do mất nhiệt, điều chỉnh trường vị, huyệt cấp cứu hồi dương cố thoát do mất máu mất nước vì tiêu chảy.
HUYỆT ÂM GIAO :
Là huyệt giao hội của Thận và Mạch Xung (của tim), có chức năng phân thanh trọc, cho xuất nước xuất hàn lạnh ra khỏi cơ thể.
Cùng một lúc bấm hai huyệt Thần Khuyết và Âm Giao chữa người lạnh bụng trướng đầy nước, phù thủng. Hai huyệt này ít làm thay đổi áp huyết, nhưng có gí trị chữa bí tiểu do hàn kết.
HUYỆT KHÍ HẢI :
Là huyệt điều khí bổ nguyên khí, ấm hạ tiêu, ấm toàn thân ra chân tay, khử thấp trọc, hòa vinh huyết để bổ khí huyết.
Bấm huyệt này áp huyết xuống, giúp hơi thở được sâu, có lực.
HUYỆT QUAN NGUYÊN :
Huyệt giao hội của Tiểu Trường và Vị, ôn nguyên dương, bảo kiện gan-tỳ-thận âm dương, chữa ứ kết, tán tà, tiêu viêm, trừ hàn thấp, phân thanh trọc, tiêu bướu vùng hạ tiêu.
Bấm huyệt này để bổ khí huyết điều chỉnh từ gan-tỳ-thận. Huyệt điều chỉnh áp huyết ổn định.
HUYỆT TRUNG CỰC :
Là huyệt chuyên trị bệnh của bàng quang, chữa bí tiểu, viêm đường tiểu, ôn điều huyết ở tử cung, tiêu bướu tử cung, tuyến tiền liệt, giúp ổn định áp huyết, làm ấm hạ tiêu, tiêu thấp nhiệt.
HUYỆT KHÚC CỐT :
Tiêu viêm vùng bàng quang, tử cung, dịch hoàn, bí tiểu, không làm ảnh hưởng áp huyết.
2-CÁCH PHỐI HỢP HUYỆT :
Khi qúy vị đã hiểu rõ chức năng của mỗi huyệt có ảnh hưởng đối với áp huyết. Chúng ta lấy máy đo áp huyết đo ở tay nào cũng được ở thế nằm tốt hơn ở thế ngồi, khoảng cách chênh lệch hiệu số áp huyết giống như hiệu số điện thế sẽ không làm ảnh hưởng đến não và tim mạch. Có những giai đoạn sau :
1-Chúng ta thực tập đo áp huyết khi chưa bấm vào huyệt nào.
2-Đo từng huyệt trong khi cho máy đo áp huyết làm việc xem là bao nhiêu. Rồi đo lại khi không bấm huyệt, để ghi nhớ huyệt nào làm tăng áp huyết, huyệt nào làm giảm áp huyết ở mỗi người hơi khác nhau do áp lực khí của tạng phủ mỗi người có bệnh khác nhau.
3-Cuối cùng, không bấm huyệt nào nữa, chỉ đo áp huyết ở 2 tay, đó mới là áp huyết thực sự, mới lòi ra được những căn bệnh tiềm ẩn tích lũy trong cơ thể từ lâu, khi so sánh nó với số đo lúc ban đầu.
Thí dụ nhìn một người thấy mặt xanh xao, áp huyết cao 140/90mmHg mạch 110, vẫn uống thuốc áp huyết mà không xuống, thực ra khả năng của thuốc đã làm cho xuống thấp, nhưng cơ thể đã phản ứng chống lại khi áp huyết bị tụt, mạch phải đập nhanh hơn để đưa áp huyết lên cho phù hợp với sức khỏe của cơ thể. Khi áp dụng tìm áp huyết thật theo phương pháp này, ở thế nằm. áp huyết sẽ xuống dưới 100/70mmHg nhưng mạch đập chậm hơn. Lúc đó mới biết áp huyết giả đã hại mình và vì sao uống thuốc suốt đời mà không hạ, nhưng bỏ thuốc sẽ bị tai biến mạch máu não